Vinh danh Nhạc sĩ Nam Lộc tại Washington D.C.
Vinh danh NS Nam Lộc tại Washington D.C.
Đoàn Việt Trung (tóm tắt video phóng sự của SBTN)
❇️Lễ kỷ niệm 75 năm Công ước Tỵ nạn LHQ
Ngày 22 tháng 7 năm 2026, tại tòa nhà Hness Office Building ở thủ đô Washington D.C., có một sự kiện đầy ý nghĩa.
Buổi lễ được tổ chức bởi các tổ chức hỗ trợ người tị nạn như Church World Service, Refugee Council USA.
Nhạc sĩ Nam Lộc là một trong 4 người được vinh danh nhờ những cống hiến không mệt mỏi, trong trường hợp của ông là nửa thế kỷ phục vụ và đồng hành cùng người tỵ nạn trên khắp thế giới.

❇️ Tiếng nói tiêu biểu cho khát vọng tự do
Phát biểu tại diễn đàn, nhạc sĩ Nam Lộc nói rằng khát vọng tự do của ông là điển hình cho khát vọng tự do của hàng triệu người tỵ nạn.
Theo ông, Công ước 1951 và Đạo luật Tị nạn Hoa Kỳ năm 1980 là hai cột mốc đặc biệt quan trọng đã mở ra cơ hội tái sinh cho những con người phải chạy trốn chiến tranh và đàn áp.
Nhạc sĩ chia sẻ một góc nhìn lịch sử: hành trình tìm tự do của người Việt không chỉ bắt đầu từ biến cố 1975, mà đã khởi nguồn từ những cuộc di cư vào miền Nam vì sự độc ác của chế độ cộng sản miền Bắc trong thập niên 1950.

❇️ Những cuộc trả thù của kẻ chiến thắng
Những cuộc trả thù của kẻ chiến thắng, những cuộc bỏ tù và vùi dập hàng triệu người, những lần đổi tiền để bần cùng hóa toàn dân miền Nam, những cướp đất của dân, cướp nơi thờ phượng của tôn giáo, đã đẩy hàng triệu người Việt phải bỏ nước ra đi, đánh đổi mạng sống.
Bởi vì tự do và nhân quyền là vô giá.

❇️ Một thông điệp khẩn thiết
Cùng với các diễn giả điển hình cho những cộng đồng khác nhau—như trẻ em châu Phi bị bỏ rơi, phụ nữ bị bạo hành, hay những người tị nạn Afghanistan và Pakistan—nhạc sĩ Nam Lộc đã gửi đến các nhà lập pháp Hoa Kỳ một thông điệp khẩn thiết:
Vẫn còn rất nhiều người yếu thế đang cần sự bảo vệ, đặc biệt trong đó có người từ Việt Nam đang sống vất vưởng, bấp bênh tại Thái Lan.
Với nhạc sĩ, việc giúp đỡ người tị nạn không phải chỉ là công việc, mà là một cách sống. Là một người từng đi tìm tự do, ông tự đặt lên vai mình trách nhiệm giúp đỡ những người đồng cảnh ngộ hiện tại, dù họ từ quốc gia hay thuộc sắc tộc nào.
PHÓNG SỰ CỦA SBTN
🔶🔷🔸🔹🔺🔻★
Below is Nam Lộc speech, in ENGLISH THEN VIETNAMESE
Honorable Senators, Representatives, Distinguished Guests, Ladies and Gentlemen,
It is a profound honor to join you today as we commemorate the 75th Anniversary of the 1951 United Nations Refugee Convention, a landmark agreement that has brought hope, protection, and a new beginning to millions of people forced to flee war, persecution, and oppression.
I am someone who has twice become a refugee in order to escape the communist dictatorship.
The first time was in 1954, when I was only ten years old. My family was forced to leave our birthplace in search of freedom. We were welcomed by the people of South Vietnam, with the support of France and the United States. It was the humanitarian spirit embodied in the 1951 United Nations Refugee Convention that inspired the international community to protect those fleeing war, oppression, and persecution. Because of that compassion, my family, along with millions of others, was given the opportunity to begin a new life.
Twenty-one years later, when the communists forcibly occupied South Vietnam in 1975, my family and millions of our fellow citizens were once again forced to flee. I alone reached freedom in the United States, while the rest of my family was left behind, despite being on the U.S. Government’s evacuation list.
The first few years in America were not easy. At that time, there was no comprehensive refugee resettlement system as we know today. We lived under parole status with an uncertain future. Yet, through the generosity of the American people and the dedication of many voluntary resettlement agencies, charitable organizations, and faith communities, hundreds of thousands of refugees, including me, were given the opportunity to rebuild our lives.
Meanwhile, in Vietnam, millions of people suffered persecution. They lost their homes and property, were imprisoned in so-called “reeducation camps,” or risked their lives fleeing by sea in search of freedom. Countless boat people perished at sea or died in the jungles while seeking safety. It remains one of the greatest humanitarian tragedies of the twentieth century.
In 1980, the United States Congress passed the Refugee Act of 1980, opening America’s doors to millions of refugees from around the world. My family was among those whose lives were transformed by this compassionate law.
Ladies and Gentlemen,
Many of the visionaries who helped create the 1951 Refugee Convention and the Refugee Act of 1980 have now retired or passed away. Today, I stand here to honor their legacy.
Because I was personally blessed by their compassion, I have always believed that I have a responsibility to extend that same compassion to those who come after us. For more than five decades, I have tried to live by that principle.
Throughout those years, I have had the privilege of helping refugees from many parts of the world rebuild their lives in America, not only Vietnamese refugees, but also those fleeing persecution and conflict from other nations.
In August 2021, when I watched the last evacuation flight depart Kabul, Afghanistan, I felt as though I were reliving the painful memories of April 1975. Soon afterward, together with Vietnamese refugee communities across the United States, we raised funds, organized community sponsorship groups, and helped nearly one hundred Afghan refugees resettle in communities across the country.
When war broke out in Ukraine, we also contributed humanitarian assistance to its victims, because few understand the suffering of war and displacement better than those who have lived through it themselves.
Across the world, Vietnamese refugees have sought to repay the kindness they received by contributing to the countries that welcomed them. Some have served with honor in the armed forces. Some have made the ultimate sacrifice in defense of their adopted homeland. Others have devoted their lives to education, medicine, science, business, public service, and countless other fields. We are also witnessing a new generation, the children and grandchildren of refugees, helping to build a freer, stronger, and more prosperous America.
Today, we are not here to speak about our accomplishments. We are here to express our deepest gratitude to the United Nations, the Government and people of the United States, the many nations that opened their doors to refugees, humanitarian organizations, faith communities, and countless individuals who welcomed us with compassion and gave us the opportunity to rebuild our lives.
The global refugee crisis is far from over. Tens of millions of people around the world continue to live in fear, displacement, and uncertainty, waiting for the opportunity to live in freedom, safety, and dignity.
Those of us whose lives were saved have both the privilege and the responsibility to stand with you, so that others may also have the opportunity to live in freedom, dignity, and hope.
To me, being a refugee is not merely a chapter of my past; it is a responsibility I will carry with me for the rest of my life.
Thank you for your kindness, your generosity, and your unwavering commitment to protecting refugees.
May God bless each of you, and may He continue to bless all those who open their hearts and their homes to people in need.
Thank you very much.
—————————
Kính thưa quý vị Thượng Nghị Sĩ, Dân Biểu Quốc Hội, cùng Quý Quan Khách,
Hôm nay, tôi vô cùng vinh dự được có mặt cùng quý vị để kỷ niệm 75 năm Công Ước Liên Hiệp Quốc về Người Tị Nạn Năm 1951, một văn kiện mang tính lịch sử đã đem lại niềm hy vọng, sự bảo vệ và cơ hội bắt đầu một cuộc đời mới cho hàng triệu người trên thế giới phải chạy trốn chiến tranh, đàn áp và ngược đãi.
Tôi là một người đã hai lần phải đi tị nạn để chạy trốn chế độ độc tài cộng sản.
Lần thứ nhất, vào năm 1954, khi mới 10 tuổi, tôi cùng gia đình đã phải rời khỏi nơi mình sinh ra để đi tìm tự do. Chúng tôi được đồng bào miền Nam Việt Nam với sự hỗ trợ của các nước Pháp và Hoa Kỳ, giúp đỡ định cư cùng mở rộng vòng tay đón nhận. Chính những giá trị nhân đạo được khẳng định trong Công Ước Quốc Tế 1951 về Người Tị Nạn của Liên Hiệp Quốc đã và đang soi đường cho những nỗ lực bảo vệ những người phải chạy trốn chiến tranh, đàn áp và bách hại. Nhờ đó, gia đình tôi cùng hàng triệu người khác đã có cơ hội bắt đầu một cuộc sống mới.
Hai mươi mốt năm sau, khi cộng sản cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam vào năm 1975, gia đình tôi cùng hàng triệu đồng bào lại phải bỏ nước ra đi. Chỉ một mình tôi đến được bến bờ tự do, trong khi toàn bộ gia đình bị kẹt lại phía sau, mặc dù đã có tên trong danh sách di tản của Chính phủ Hoa Kỳ.
Những ngày đầu tại Hoa Kỳ vô cùng gian nan. Khi ấy chưa có điều luật về người tị nạn, và cũng chưa có hệ thống tái định cư như ngày nay. Tất cả chúng tôi đều ở trong quy chế tạm dung, với một tương lai bất định. Nhưng nhờ tấm lòng nhân ái của người dân Hoa Kỳ cùng sự tận tâm của các tổ chức thiện nguyện, hàng trăm ngàn người tị nạn, trong đó có tôi, đã được cưu mang và có cơ hội làm lại cuộc đời.
Trong khi đó, tại Việt Nam, hàng triệu người tiếp tục bị đàn áp, bị tước đoạt tài sản, bị đưa vào các trại tù mà họ gọi là “cải tạo”, hoặc phải vượt biển tìm tự do. Rất nhiều người đã vĩnh viễn nằm lại giữa biển khơi hoặc trong rừng sâu. Đó là một trong những thảm kịch nhân đạo lớn nhất của thế kỷ 20.
May mắn thay, năm 1980, Quốc Hội Hoa Kỳ đã thông qua Đạo Luật Người Tị Nạn (Refugee Act of 1980), mở rộng cánh cửa cứu giúp hàng triệu người trên khắp thế giới. Gia đình tôi cũng là một trong những gia đình được hưởng cơ hội lớn lao từ đạo luật đầy tính nhân bản này.
Kính thưa quý vị,
Ngày nay, nhiều người đã góp phần xây dựng Công Ước Người Tị Nạn 1951, và Đạo Luật Tị Nạn 1980 không còn nữa, hoặc đã về hưu. Để tri ân họ, và cũng chính vì đã từng được người khác mở rộng vòng tay cứu giúp, nên suốt hơn 51 năm qua, tôi luôn tự nhủ mình có trách nhiệm trao lại cơ hội ấy cho những người tị nạn đến sau.
Tháng 8 năm 2021, khi nhìn thấy chuyến bay cuối cùng rời Kabul, Afghanistan, tôi như sống lại ký ức đau thương của chính mình vào năm 1975. Ngay sau đó, cá nhân tôi cùng cộng đồng người Việt tị nạn trên khắp Hoa Kỳ đã chung tay gây quỹ, thành lập các nhóm bảo trợ và giúp gần 100 người tị nạn Afghanistan định cư tại nhiều tiểu bang.
Khi chiến tranh tại Ukraine bùng nổ, chúng tôi cũng tiếp tục quyên góp và hỗ trợ những nạn nhân chiến tranh, bởi chúng tôi hiểu hơn ai hết nỗi đau của những người đã phải sống trong nỗi kinh hoàng của bom đạn hằng đêm.
Không chỉ dừng lại ở đó, người tị nạn Việt Nam trên khắp thế giới đã và đang đóng góp tích cực cho những quốc gia đã cưu mang mình. Có người phục vụ trong quân đội; có người đã hy sinh để bảo vệ quê hương thứ hai mà họ đã chọn sống; có người cống hiến cho giáo dục, khoa học, y tế, kinh doanh và nhiều lĩnh vực khác. Ngay tại đây hôm nay, chúng ta cũng đang chứng kiến rất nhiều người trẻ xuất thân từ các gia đình tị nạn tiếp tục góp phần xây dựng một nước Mỹ tự do, hùng mạnh và thịnh vượng.
Hôm nay, chúng tôi không đứng đây để nói về những thành tựu của mình. Chúng tôi có mặt để bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Liên Hiệp Quốc, Chính phủ Hoa Kỳ, các quốc gia nhân đạo, các tổ chức thiện nguyện và biết bao cá nhân đã mở rộng vòng tay đón nhận chúng tôi.
Cuộc khủng hoảng người tị nạn trên thế giới vẫn chưa chấm dứt. Hàng chục triệu người vẫn đang sống trong cảnh lưu lạc và chờ đợi một cơ hội được sống trong tự do, an toàn và nhân phẩm.
Bổn phận của những người đã từng được cứu giúp như chúng tôi là tiếp tục chung tay cùng quý vị, để nhiều người khác cũng có cơ hội được sống trong tự do, nhân phẩm và hy vọng.
Đối với tôi, thân phận người tị nạn không chỉ là một phần của quá khứ; đó là một trách nhiệm mà tôi sẽ mang theo suốt cuộc đời mình.
Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý vị sức khỏe, bình an và mọi điều tốt đẹp.
Nguyễn Nam Lộc
