Tiểu Sử Đức Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Tôn (1928-2026)

TIỂU SỬ
ĐỨC ĐẠI LÃO
HÒA THƯỢNG THÍCH HUYỀN TÔN
THÂN THẾ:
Đức Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Tôn, đệ tử của Đệ Lục Tổ Sư Thiên Ấn Tự, Hòa Thượng Tăng Cang Chơn Trung – Diệu Quang, thế danh Nguyễn Thái Long, pháp danh Như Kế, pháp tự Giải Tích, pháp hiệu Huyền Tôn. Ngài sinh năm Mậu Thìn (1928 – Việt lịch: 4807) tại làng Châu Nhai, xã Tịnh Bình, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi (nay thuộc xã Trường Giang, tỉnh Quảng Ngãi), trong một đại gia đình gồm 13 anh chị em, Ngài là người con út.
Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Giàu (1874–1942), pháp danh Như Quý, vốn là một võ quan sơn phòng triều Tự Đức. Về sau, cụ xuất gia với Hòa Thượng Tăng Cang Diệu Quang tại Tổ đình Thiên Ấn, được ban pháp hiệu Huyền Thông. Cụ chuyên tu pháp môn Tịnh Độ và đã dự tri thời chí trước ba tháng. Thân mẫu là cụ bà Thái Thị Túc (1891–1945), pháp danh Như Chỉnh, tự Giải Lý, một bậc hiền mẫu đảm đang, quê tại thôn Háo Lễ, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định (nay thuộc thôn Háo Lễ, xã Tuy Phước Bắc, tỉnh Gia Lai).
– Năm 1931, 3 tuổi, sinh trưởng trong một gia đình quyền quý có nền nếp Nho học, Ngài được cha mẹ cho khai tâm chữ Hán qua các bộ Tam thiên tự, Ngũ thiên tự, Tam tự kinh, Minh Tâm Bảo Giám, Gia huấn ca… Vốn học này trở thành nền tảng Hán học quan trọng cho công việc phiên dịch và trước tác của Ngài về sau.
– Năm 1933, 5 tuổi, Ngài được thân phụ cho học thuộc hai thời Kinh công phu và bộ luật Tỳ Ni; đồng thời truyền dạy võ nghệ qua các bài Ngọc Trản, Song kiếm, Xung thiên đề đao, Nam trường quyền. Nhờ vậy, từ thuở thiếu thời Ngài đã sớm vun bồi cả văn học lẫn võ học.
– Năm 1934 (Giáp Tuất), 6 tuổi, Ngài cùng thân phụ xuất gia tại Tổ đình Thiên Ấn, một trong những tổ đình tiêu biểu của Phật giáo Quảng Ngãi. Bổn sư là Hòa Thượng Tăng Cang Chơn Trung – Diệu Quang ban pháp danh Như Kế; từ đó Ngài tùng chúng học tập những kinh luật căn bản của người xuất gia. Hòa Thượng Chơn Trung là bậc uyên thâm Nho học, làu thông khoa Du Già (62 bộ ấn chú Mật giáo) và Kinh Bảo Tích; Ngài có công khai sơn, trùng tu các chùa Viên Giác (núi Thình Thình), Bảo Lâm, Quang Lộc, Kim Liên, Long Sơn và Khánh Vân. Môn đồ của Ngài gồm 14 Tỳ-kheo, 81 Sa-di, 14 Sư cô, cùng hơn 1.000 đệ tử tại gia thọ Tam quy Ngũ giới. Riêng chùa Viên Giác thường có hơn 10 tịnh nhân thường trú công quả; vào các lễ lớn như Rằm tháng Giêng, Rằm tháng Bảy và Tết Nguyên Đán, có từ 5.000 đến 7.000 đồng bào Phật tử về tham dự.
– Năm Bính Tý (1936), Ngài theo thân phụ về ngụ tại chùa Long Sơn, làng Sung Tích, xã Tịnh Long, huyện Sơn Tịnh. Trong thời gian này, Ngài theo học chương trình trung tiểu học tại trường Sung Tích.
– Năm Kỷ Mão (1939), Bổn sư đưa Ngài về nhập chúng tại chùa Viên Giác trên núi Thình Thình (Thanh Thanh sơn), xã Bình Tân, huyện Bình Sơn (nay thuộc xã Đông Sơn, tỉnh Quảng Ngãi). Đây là ngôi chùa do Hòa Thượng Diệu Quang khai sơn để tiếp Tăng độ chúng.
– Vào Rằm tháng Giêng năm Canh Thìn (1940), Ngài được Bổn sư truyền Sa-di thập giới tại chùa Viên Giác và ban pháp tự Giải Tích. Sau khi thọ giới, Bổn sư cho Ngài ra Huế theo học tại Phật học đường Tây Thiên dưới sự chủ giảng của Hòa Thượng Phước Huệ.
– Năm Mậu Tý (1948), 20 tuổi, Ngài thọ Cụ Túc Giới tại Giới đàn Viên Giác, huyện Bình Sơn, do Hòa Thượng Bổn sư làm Đàn đầu; được phú pháp hiệu Huyền Tôn (Tông), nối pháp đời thứ 41 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh.
– Sau thời gian tu học tại Tây Thiên, Ngài tiếp tục học tại Phật học đường Viên Giác (Mậu Tuất – 1958); đến năm Canh Tý (1960), tốt nghiệp Cử nhân Hán học thuộc Bộ Giáo dục Quốc gia Việt Nam.


ĐẠO NGHIỆP TẠI VIỆT NAM:
– Năm Giáp Thân (1944), trước những biến động của thời cuộc, Hòa Thượng trở về chùa Viên Giác và được Bổn sư trạch cử làm Thủ tọa, chăm lo đời sống Tăng chúng. Trong trách nhiệm này, Ngài vận dụng tinh thần Lục Hòa để dung thông các chức sự Tri sự, Hương đăng, Thủ khố, Tri khách…, góp phần tạo nên nếp sống bình đẳng, hòa hợp và an lạc nơi già lam.
– Năm 1945 đến 1947, Hòa Thượng chịu nhiều lao khổ để bảo vệ Tăng chúng và Chùa Viên Giác dưới ách thống trị của chính quyền Việt Minh.
– Năm 1947-1951, tiếp mật chỉ của HT Huyền Quang “Thành lập PG Liên khu 5”, Hòa Thượng đi bộ vào Tổ Đình Thập Tháp để cùng chư Tôn Đức như quý Ngài: HT Huyền Quang, Giác Tánh, Tâm Hoàn, Bảo An, Kế Châu, Như Thắng, Như Phẩm, Như Kế, Đồng Từ, Thiện Duyên… thành lập đoàn Thanh Niên Tăng 12 vị do HT Huyền Quang làm Thư ký, để thăm viếng tất cả các chùa và thuyết giảng từ miền duyên hải cho đến sơn cùng. Trên bước đường hoằng pháp, Hòa Thượng đã đi về giữa 2 tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi gồm 3 lần đi bộ, ước chừng 340 km cho 1 năm và 4 tháng trên đường trường. Riêng tại Bình Định: Kỳ Sơn, Qui Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, Háo Lễ, Bồng Sơn, Tam Quan, Chương Hòa …có vài lược đi xe “Gòn”.
– Năm 1948-1949, sau khóa huấn luyện Thập Tháp, Tăng đoàn làm việc ở Chương Hòa, Chùa Thắng Quang gần biên giới Quảng Ngãi. Nhân đó, Tăng đoàn qua biên giới làm việc trong tám ngày cho 2 quận Sa Huỳnh và Đức phổ. Hòa Thượng đã chia tay với Tăng Đoàn về luôn Quảng Ngãi để lo Phật sự với sơn môn.
– Năm 1950-1952, Hòa Thượng cùng quý Ngài Trí Hữu, Chí Thiện, Quang Thể, Đồng Chơn hoằng pháp tại Quảng Ngãi và Quảng Nam.
– Năm 1953, Hòa Thượng ra Chùa Từ Đàm, Huế để tường trình Phật sự địa phương với HT Trí Quang và HT Mật Nguyện. Cũng trong năm này, Hòa Thượng đã gặp HT Tâm Châu từ Bắc mới vào Huế.
– Năm 1954-1959, Hòa Thượng được công cử làm Tổng Thư Ký cho Hội An Nam Phật Học dưới sự Lãnh đạo của HT Thích Trí Quang, Hội đặt trụ sở tại Chùa Hội Phước (Quảng Ngãi), nhân sự gồm có các Hòa Thượng: Giải An, Huyền Đạt, Huyền Tấn, Huyền Tế, Huyền Kính, Giải Hậu và toàn Sơn-Môn 171 Tăng. Về phía Cư Sĩ có Đh Dung, Bùi Toàn, ông Phùng, anh Nhập v.v… Thường trú trong chùa: Thầy Huyền Tôn, Thầy Giải Hậu. Trải qua 6 năm, Hòa Thượng một mình đi bộ, đi xe đạp, xích lô, suốt qua 7 quận huyện, hơn 50 làng xã của Quảng Ngãi, và 2 năm đi bộ giữa Quảng Ngãi và Bình Định cùng với Tăng đoàn tỉnh ấy làm việc không ngừng. Riêng tại Quảng Ngãi Hòa Thượng đã đem về cho tỉnh nhà 25 khuôn hội. Mỗi khuôn hội từ 70 đến 300 hội viên. Tính trung bình có khoảng 5 đến 7 ngàn Phật Tử. Tỉnh Bình Định nhờ đạo lực của các Ngài Huyền Quang, Giác Tánh, PG rạng rỡ như thủy triều dâng của buổi ban mai.
– Từ năm 1954-1960, Hòa Thượng là Giáo Sư Phật học tại các Phật Học Đường Bảo Lâm (Mỹ Khê, Quảng Ngãi), Phật Học Đường Kim Liên (Tịnh Giang, Quảng Ngãi).
– Năm 1960 (Canh Tý),Hòa Thượng trao lại công việc chùa cho Sư huynh Giải Hậu và theo lời mời của HT Thích Thiện Hòa, Giám Đốc Phật Học Đường Nam Việt (Ấn Quang) vào Sài Gòn nhận dạy lớp Trung Đẳng Phật Học cho 60 Tăng sinh tại Chùa Minh Quang ở gần đường Trương Minh Giảng. HT Thiện Hòa là bậc tu hành chơn chánh, Ngài theo kệ truyền thừa của môn phái Lâm Tế Chúc Thánh mà đối xử, xem Hòa Thượng chữ “Như” vào hàng Sư huynh, vì HT Huyền Tôn, gọi HT Khánh-Anh, Pháp chủ PGMN là Sư thúc.
– Năm 1960-1970, Hòa Thượng cùng HT Thanh Kiểm làm việc trong Ban Phiên Dịch của Ban Tu Thư Bộ Văn Hóa Giáo Dục Quốc Gia do Cụ Nguyễn Thọ Dực làm Trưởng Ban và Cụ Chánh Trí Mai Thọ Truyền làm Bộ trưởng Bộ Giáo Dục. HT Tài Quan đã giới thiệu HT Huyền Tôn cho Ban Phiên Dịch Hán Cổ khi Hòa Thượng từ miền Trung mới vào Nam.
– Năm 1963, Hòa Thượng gặp nhiều lao khổ trong cuộc tranh đấu PG chống lại chính quyền nhà Ngô, Hòa Thượng cùng với Thầy Chơn Ngữ mang huyết thư của Ủy Ban Liên Phái đến Tổ Đình Ấn Quang nhưng bị lộ và bị bắt bỏ tù, bị đánh đập, vết thẹo hằn sâu trên lưng vẫn còn gây đau nhức. Thầy Chơn Ngữ là người đã vâng lệnh HT Quảng Đức tưới xăng lên người trước khi Ngài tự châm lửa tự thiêu.
– Từ năm 1964 đến 1974, Hòa Thượng là Giảng Sư của Viện Hóa Đạo.
– Năm 1965, Hòa Thượng được cử làm Trưởng Ban Tổ Chức Đại Lễ Phật Đản Ất Tỵ tại Tỉnh Gia Định.
– Từ năm 1960-1962, Hòa Thượng là Giáo Sư Phật học tại Phật Học Đường Quang Minh (Sài Gòn).
– Từ năm 1969-1972, Hòa Thượng là Giáo sư Trung học dạy học tại Trường Bồ Đề ở Sài Gòn. Hiệu trưởng là HT Quảng Liên, đồng nghiệp với Hòa Thượng lúc này có Thầy Đức Niệm, Thầy Thanh Trúc.
– Năm 1969 (Kỷ Dậu), 42 tuổi, được Viện Hóa Đạo tấn phong Giáo Phẩm Thượng Tọa.
– Từ năm 1969-1972, Hòa Thượng được HT Trí Thủ mời làm Chánh Đại Diện Phật Giáo Tỉnh Gia Định.
– Từ năm 1960 đến 1975, Hòa Thượng là ký giả và dịch giả cho các tờ báo: Báo Hoằng Pháp của Viện Hóa Đạo, Tuần Báo An Lạc (Chùa Quan Âm, Phú Nhuận), Tin Sớm (chủ bút: Nguyễn Ang Ca), Tiền Tuyến của Quân đội VNCH, Xuân của Thông Tin v.v… với bút hiệu Lĩnh Nam và Hạo Gia. Soạn lịch Âm Dương. Dịch truyện chưởng cho tờ Trắng Đen. Các chuyện khác: Kỳ nữ Tố Nga, Chuyện cấm đọc đêm 30, Hùm thiêng ba móng (Truyện dài nhiều kỳ), Con Khỉ khôn và Cá Sấu, Tiếng mõ đêm 30 (truyện ngắn)…Dịch sách cho nhóm Tàu Chợ Lớn. Đó là những tác phẩm bán bản quyền.
– Năm 1979 (Kỷ Mùi), Hòa Thượng bị Cục R của CS dọa dẫm, bắt buộc phải làm việc theo lịnh của họ, cho nên Hòa Thượng quyết định lên đường vượt biên vào ngày 9-3-1979, sau 9 ngày lênh đênh trên biển cả, Hòa Thượng đã đến được Trại Tỵ Nạn trên đảo Pulau Bidong, Malaysia và lưu trú tại đây một năm 2 tháng. Tại Chùa Từ Bi trên Đảo, HT thành lập Ban Đại diện PG, Hòa Thượng làm Chủ Tịch, Thầy Nguyên Hạnh làm Thư-ký, các Thầy Thiện-Đạt, Minh Mẫn, Minh Cường, Thiện Huệ và 9 Sư Cô…thành lập GĐPT Long-Hoa. TS Nhất Hạnh 2 lần gởi tiền $500 & $2000 Mỹ Kim, HT Huyền Tôn đại diện nhận và đổi ra tiền Mã Lai để phát ra cho đồng bào tỵ nạn trên đảo.

ĐẠO NGHIỆP TẠI ÚC CHÂU:
– Năm 1980, Hòa Thượng đến định cư tại Melbourne, Australia.
– Năm 1981 (Tân Dậu), Hòa Thượng là đồng sáng lập và làm Hội Trưởng Hội PGVN tại Victoria.
– Năm 1981, Hòa Thượng khai sơn Chùa Đại Bi Quan Âm tại Victoria.
– Năm 1982, Hòa Thượng và Hội bảo lãnh 41 Gia đình sang Úc định cư tỵ nạn qua diện Phật Giáo bảo trợ.
– Năm 1982, Hòa Thượng và Hội can thiệp thành công đưa 700 em cô nhi đến Mỹ định cư. HT Huyền Tôn đã nhân danh Hội Trưởng Hội PGVN tại Victoria, đến gặp Ngài Cao Ủy Tị Nạn Sắc Tộc của Úc để can thiệp và Cao Ủy Tỵ Nạn đã đồng ý tiếp nhận.
– Năm 1983 (Giáp Tý), Hòa Thượng là thành viên đồng sáng lập GHPGVNTN Úc Châu-Tân Tây Lan.
– Năm 1983 đến 1987, Hòa Thượng là đệ nhất Phó Viện Trưởng Viện Hoằng Đạo, kiêm 3 Tổng Vụ: Giáo Luật, Tăng Sự và Hoằng Pháp.
– Năm 1983-1987, Hòa Thượng làm Chủ Bút Báo PGVN Úc Châu.
– Năm 1986-1914: Hòa Thượng là Đàn chủ Gia Trì Sư tại 15 Pháp hội Chẩn tế Bạt độ Âm linh Cô hồn tại các chùa thành viên tự viện của GH trên toàn liên bang Úc Đại Lợi.
– Năm 1989: Hòa Thượng là Yết Ma A Xà Lê Sư tại Giới Đàn Phước Huệ.
– Năm 1992: Hòa Thượng kiến tạo Lăng Nghiêm Bảo Vương Tự, vùng Essendon, Victoria.
– Năm 1992-1999, Hòa Thượng là Chủ tịch Hội Tài Trợ Tăng Ni, Tự Viện VN (Tổng Kết số tiền tài trợ: $46,875.00. (Hội có 21 thành viên; ChủTịch: HT Huyền Tôn, Thư ký: Đh.Tâm Mãn, Trưởng Ban Vận Động: Đh Bảo Minh Đạo, Thủ quỹ: Đh Bảo Diệu Ngọc)
– Năm 1993 (Quý Dậu), 66 tuổi, Ngài được tấn phong lên Giáo phẩm Hòa Thượng.
– Năm 1995, Hòa Thượng là Giáo Thọ Sư tại Giới Đàn Phước Huệ.
– Năm 1999 (Kỷ Mão), Hòa Thượng là thành viên đồng sáng lập Giáo Hội PGVNTN Hải Ngoại tại UĐL-TTL (tại Chùa Pháp Bảo, Sydney).
– Từ năm 1999 (Kỷ Mão), Hòa Thượng là Thành viên Hội Đồng Chứng Minh của Giáo Hội PGVNTN Hải Ngoại tại UĐL-TTL
– Năm 2005, Hòa Thượng được cung thỉnh làm Đàn Đầu Hòa Thượng tại Giới Đàn tổ chức tại Tu Viện Vạn Hạnh, Canberra, do HT Quảng Ba làm Đàn Chủ.
– Từ năm 2011 (Tân Mão), Hòa Thượng là Tăng Giáo Trưởng của GHPGVNTNHN UĐL-TTL.
– Từ năm 2012 (Nhâm Thìn), Hòa Thượng cùng HT Thích Tâm Phương chủ trương Bố Tát định kỳ mỗi tháng cho Tăng Đoàn tại Victoria và Hòa Thượng luôn có mặt tham dự.


KHAI SƠN VÀ KIẾN TẠO TỰ VIỆN TẠI ÚC CHÂU
Với tâm nguyện “Hoằng pháp là sự nghiệp, lợi sanh là lẽ sống”, ngay từ những ngày đầu định cư tại Melbourne, Hòa Thượng đã đặc biệt quan tâm đến việc kiến lập đạo tràng làm nơi nương tựa tâm linh cho cộng đồng Phật tử Việt Nam nơi xứ người.
Năm 1981, Hòa Thượng thành lập Chùa Đại Bi Quan Âm tại vùng Richmond. Đây là một trong những cơ sở Phật giáo Việt Nam đầu tiên tại Melbourne và về sau trở thành tiền thân của Chùa Quang Minh.
Năm 1992, Hòa Thượng tiếp tục kiến lập ngôi chùa thứ hai mang tên Lăng Nghiêm Bảo Vương Tự tại vùng Essendon, Victoria. Do nhu cầu sinh hoạt Phật sự ngày càng phát triển, năm 2006 chùa được chuyển về vùng Delahey; đến năm 2011 lại dời về địa điểm hiện nay tại Ardeer, Victoria.
Tại vùng đất mới, với tâm nguyện tạo dựng một đạo tràng trang nghiêm và lâu dài cho Tăng Ni, Phật tử tu học, Hòa Thượng đã trực tiếp làm việc với Brimbank City Council để hoàn tất các thủ tục xin phép xây dựng và khởi công kiến tạo Phật điện Bảo Vương. Công trình trải qua gần hai năm với nhiều khó khăn, nhưng nhờ sự chung sức của Tăng Ni, Phật tử và sự gia hộ của Tam Bảo, ngôi Chánh điện cuối cùng đã được hoàn thành.
Lễ An vị Phật và Khánh thành Chánh điện Bảo Vương Tự được long trọng cử hành vào Chủ nhật, ngày 10 tháng 9 năm 2017, nhằm ngày 20 tháng 7 năm Đinh Dậu, Phật lịch 2561, Việt lịch 4896.
Trong dịp trọng đại này, Hòa Thượng chính thức cử Ni Sư Thích Nữ Thể Viên, người cháu ruột của Ngài, đảm nhiệm trọng trách Trụ trì Bảo Vương Tự, tiếp nối công việc điều hành và hướng dẫn Phật tử tu học. Từ đó, Hòa Thượng lui về ngôi vị Phương Trượng, dành nhiều thời gian tĩnh dưỡng, nghiên cứu, trước tác và tiếp tục chứng minh, chỉ đạo các Phật sự của bổn tự.
Trải qua nhiều lần di chuyển và kiến tạo, Lăng Nghiêm Bảo Vương Tự không chỉ là một công trình Phật giáo do Hòa Thượng dày công xây dựng, mà còn là kết tinh của hơn ba thập niên hoằng pháp, giáo hóa và vun bồi đời sống tâm linh cho cộng đồng Phật tử Việt Nam tại Victoria.

TÁC PHẨM CỦA HÒA THƯỢNG ĐÃ IN:
– Chư Kinh Mật Giáo
– Kinh Vu Lan Bồn;
– Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân;
– Kinh Hiền Kiếp Thiên Phật Danh;
– Kinh Bát Đại Nhơn Giác;
– 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của Phật
– Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi;
– Cực Tịnh Sanh Động
– Đại Kinh A Di Đà
– 5000 Năm Việt Lịch (đang biên soạn, TT Nguyên Tạng sẽ hoàn chỉnh và in ấn trong tương lai).


Suốt 46 năm định cư tại Úc Châu, với vai trò của một nhà truyền giáo, Đức Trưởng Lão HT Thích Huyền Tôn đã giảng nói hàng ngàn bài pháp trợ đạo, dắt dẫn con người trở nên hiền lương, tốt đẹp, tự tại an lành, bình đẳng nhân ái cho xã hội. HT đã làm theo lời Phật dạy trong bộ Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Q7), phát tâm tạo ấn bản Thần Chú “Ma Ha Tất Đát Đa Bát Đát Ra” để biếu tặng cho đồng hương Phật tử, ngõ hầu giải trừ ma bịnh, linh nghiệm an tường, đã có hơn 2700 ấn bản được phát tặng. HT luôn chí tâm lục hòa với tất cả Chư Tôn Pháp lữ trong Giáo Hội suốt từ 1980 đến ngày viên tịch. Riêng tại Chùa Bảo Vương, nơi trụ xứ hằng tuần mỗi Chủ Nhật đều có thời giảng dạy Phật Pháp, tụng kinh, khóa lễ kỳ an, kỳ siêu cùng với 50 hay 70 Phật tử. Các lễ lớn đều tổ chức trang nghiêm và đông đúc. Tuy lặng lẽ âm thầm nhưng hoan hỷ, vui vẻ, yên hòa cho mọi người, bình an cho mọi sinh hoạt. Ai có tu trì sẽ tận hưởng niềm an lạc ấy.
Ngày 8 tháng 9 năm 2026, Hội Đồng Giáo Phẩm Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi – Tân Tây Lan đã chính thức ban hành Quyết định suy tôn Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Tôn đăng lâm ngôi vị Tăng Trưởng của Giáo Hội. Đây là sự ghi nhận trang trọng đối với cuộc đời tu hành, đạo hạnh cao quý và những công đức lớn lao mà Đại Lão Hòa Thượng đã tận tụy phụng sự Tam Bảo, Giáo Hội và Tăng đoàn trong suốt nhiều thập niên. Từ quê nhà Việt Nam đến Úc Đại Lợi, Ngài luôn dấn thân cho sự nghiệp hoằng dương Chánh pháp, đào tạo Tăng tài và góp phần xây dựng, phát triển Phật giáo Việt Nam nơi hải ngoại. Với giới đức trang nghiêm, đạo phong khả kính và công hạnh sâu dày, Đại Lão Hòa Thượng là bậc Tôn túc thạch trụ tòng lâm, được chư Tôn đức Tăng Ni cùng đông đảo Phật tử kính ngưỡng. Việc suy tôn Ngài lên ngôi vị Tăng Trưởng thể hiện sự đồng thuận và tín nhiệm sâu sắc của Hội Đồng Giáo Phẩm, đồng thời khẳng định vai trò của Ngài trong việc hộ trì Tăng đoàn, gìn giữ Giới luật, bảo tồn truyền thống và duy trì mạng mạch của Giáo Hội. Đại Lão Hòa Thượng cũng là điểm tựa tâm linh vững chắc và là tấm gương sáng về đạo hạnh, khiêm cung và tinh thần phụng sự để các thế hệ Tăng Ni, Phật tử tiếp tục noi theo.


VIÊN TỊCH
Vào đầu tháng 9 năm 2026, pháp thể Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Tôn khiếm an. Dù được hàng môn đồ, đệ tử cùng đội ngũ y bác sĩ tại bệnh viện Sunshine, tiểu bang Victoria, Úc Châu tận tình chăm sóc và chữa trị, nhưng do tuổi cao sức yếu, thuận theo lẽ vô thường, Ngài đã an nhiên viên tịch vào lúc 0 giờ 20 phút sáng thứ Tư ngày 09/09/2026, nhằm ngày 27 tháng 07 âm lịch Bính Ngọ, trụ thế 99 năm và 78 hạ lạp.
Sự viên tịch của Đại lão Hòa thượng là một mất mát lớn đối với môn đồ pháp quyến, chư Tôn đức Tăng Ni, đồng hương Phật tử tại Úc Châu và những người từng có duyên được Ngài giáo dưỡng, dìu dắt trong nhiều thập niên. Một đời gần trọn thế kỷ, từ thuở thiếu thời xuất gia nơi Tổ đình Thiên Ấn cho đến những năm tháng cuối đời tại Úc Châu, Ngài đã đi qua biết bao biến động của quê hương và thời đại, nhưng chí nguyện phụng sự Tam Bảo, hoằng dương Chánh pháp và lợi lạc quần sanh vẫn trước sau như một.
Từ những bước chân hoằng pháp trên các nẻo đường Quảng Ngãi – Bình Định, những năm tháng phiên dịch kinh điển và phụng sự Giáo hội tại Việt Nam, cho đến hơn bốn thập niên xây dựng nền móng Phật giáo Việt Nam nơi đất Úc, cuộc đời Ngài là một hành trình dài của tinh tấn, nhẫn nại, trách nhiệm và phụng sự. Ngài đã góp phần thành lập các tổ chức Phật giáo, khai sơn tự viện, giáo hóa Phật tử, trợ giúp đồng bào tỵ nạn và luôn lấy tinh thần Lục Hòa làm nền tảng cho đời sống Tăng đoàn.
Ngày Ngài xả bỏ huyễn thân không phải là ngày đạo nghiệp khép lại, mà là lúc một đời hành đạo đã viên thành. Pháp âm tuy lặng, bóng thiền môn tuy khuất, nhưng công hạnh và chí nguyện của Ngài vẫn tiếp tục hiện hữu trong lòng hàng hậu học, trong những ngôi già lam Ngài góp phần xây dựng, trong những trang kinh sách Ngài phiên dịch, biên soạn, và trong bao thế hệ Phật tử đã được Ngài trực tiếp giáo dưỡng.


DI SẢN TINH THẦN
Suốt cuộc đời, từ khi xuất gia hành đạo cho đến lúc viên tịch, Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Tôn không ngừng dấn thân cho sự nghiệp xiển dương Chánh pháp, phiên dịch kinh điển, bảo tồn văn hóa dân tộc và xây dựng cộng đồng Phật giáo Việt Nam. Ở mỗi giai đoạn lịch sử, dù trong hoàn cảnh thuận hay nghịch, Ngài vẫn giữ vững chí nguyện của người xuất gia: lấy giới luật làm nền, lấy trí tuệ làm sự nghiệp, lấy từ bi làm phương châm và lấy việc phụng sự chúng sanh làm hành trang trên con đường Bồ-tát hạnh.
Ở Ngài hội tụ nhiều phẩm chất của một bậc Tòng lâm thạch trụ: uyên thâm Hán học và Phật học nhưng luôn thiết thực trong việc giáo hóa. Ngài vừa là một vị Giáo thọ, Giảng sư, dịch giả, trước tác gia, vừa là một nhà tổ chức Giáo hội và một bậc trưởng thượng luôn quan tâm đến đời sống của Tăng Ni, Phật tử và đồng bào. Trong những năm tháng tại Úc Châu, Ngài còn góp phần bảo trợ các gia đình tỵ nạn, can thiệp giúp cô nhi định cư, đồng sáng lập các tổ chức Phật giáo và đảm nhiệm nhiều trọng trách trong Giáo hội.
Di sản của Hòa thượng không chỉ nằm ở những công trình hữu hình hay những chức vụ Ngài từng đảm nhiệm. Di sản sâu xa hơn chính là tinh thần phụng sự không mệt mỏi, lòng kiên trì gìn giữ mạng mạch Phật pháp, đức hòa hợp trong Tăng đoàn và ý thức gìn giữ văn hóa Việt nơi xứ người. Hàng ngàn bài pháp được giảng trong nhiều thập niên, những khóa lễ, những thời tụng niệm, những ấn bản kinh chú được trao tặng và những lời giáo huấn âm thầm của Ngài đã trở thành hạt giống lành gieo vào đời sống của nhiều thế hệ Phật tử.
Đặc biệt, những tác phẩm và công trình biên soạn của Ngài là những dấu ấn cho thấy tâm nguyện gìn giữ và truyền trao kho tàng Phật học, văn hóa và lịch sử cho các thế hệ mai sau.
Sắc thân Đại lão Hòa thượng tuy đã thuận thế vô thường, nhưng đạo phong, giới đức, tư tưởng và sự nghiệp hoằng hóa của Ngài vẫn còn lưu lại trong lòng người và trong dòng chảy Phật giáo Việt Nam tại hải ngoại. Hàng hậu học hôm nay và mai sau tiếp nối những công trình còn dang dở, gìn giữ những giá trị Ngài đã trao truyền và đem tinh thần ấy phụng sự Đạo pháp và dân tộc, chính là cách thiết thực nhất để tưởng niệm và báo đáp thâm ân của một bậc Trưởng lão đã dành trọn đời mình cho Phật pháp.
Nguyện Giác linh Đại lão Hòa thượng cao đăng Phật quốc, bất xả từ bi, hồi nhập Ta-bà, tiếp tục hóa độ quần sanh.
Nam Mô tân viên tịch tự Lâm Tế chánh tông tứ thập nhất thế Khai Sơn Phương Trượng Lăng Nghiêm Bảo Vương Tự húy thượng Như hạ Kế, tự Giải Tích, hiệu Huyền Tôn Đại Lão Hòa thượng Giác linh Tôn Sư thùy từ chứng giám.

Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
phụng soạn
